slogan

KHÁI QUÁT CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC CHO SỰ RA ĐỜI CỦA TRƯỜNG

KHÁI QUÁT CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC CHO SỰ RA ĐỜI CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
 
Do chủ động tiến công từ những năm 1950 - 1953 với các chiến dịch lớn: Biên giới, Đường số 6, Khu 5 … ta đẩy Pháp vào thế bị động chống đỡ, phòng thủ. Cuối cùng chúng ta rút về cố thủ xây dựng cứ điểm Điện Biên Phủ. Điểm quyết định định thắng lợi là ở đây, Đảng ta và Bác Hồ đã nắm thời cơ chuẩn bị trận đánh cuối cùng này, Kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ chống thức dân Pháp xâm lược. Chắc thẳng cho nên Đảng và Bác Hồ đã nghĩ tới việc chuẩn bị mọi điều kiện cho giai đoạn Cách mạng mới, hòa bình xây dựng miền Bắc XHCN. Trong đó cán bộ là khâu quan trọng nên ngay sau thắng lợi Điện Biên Phủ, tháng 6- 1954, Trung ương Đảng và chính phủ đã quyết định mở khóa bồi dưỡng cán bộ Kinh tế - Tài chính đầu tiên ngay tại khu căn cứ kháng chiến (Sơn Dương, Tuyên Quang).

Hiệp định Giơ-ne-vơ về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết  (tháng 7- 1954), những cán của lớp Kinh tế - Tài chính được huy động tham gia tiếp quản vùng giải phóng, trong đó có thủ đô Hà Nội (chỉ sau 1 năm bồi dưỡng). Một số cán bộ của trường Kinh tế - Tài chính Trung ương được chuyển sang xây dựng trường Đại học nhân dân Việt Nam, có nhiệm vụ chuẩn bị cán bộ cho các trường Đại học, cơ quan Đảng, nhà nước trung ương và các địa phương.
Trường Đại học nhân dân Việt Nam lúc ấy có thể hiểu là một trường tổng hợp, đào tạo cấp thiết đủ loại cán bộ: Đảng, hành chính, kinh tế … Trường Đại học dưới chế độ mới, chế độ nhân dân làm chủ. Trường Đại học nhân dân Việt Nam thành lập tháng 1- 1955, sau khi hoàn thành một khóa bồi dưỡng vào cuối năm thì Đại học nhân dân cũng kết thúc nhiệm vụ.

Miền Bắc mới giải phóng, nơi nào, lĩnh vực nào cũng thiếu cán bộ, nhất là cán bộ quản lý kinh tế. Trong khi phải xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa; mà mô hình, cơ cấu ra sao, vận hành thế nào … đều đang tìm tòi, từng bước vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn miền Bắc, còn phải lo phục hồi kinh tế sau chiến tranh.

Trong điều kiện đó, xây dựng một Trường Đại học càng gặp nhiều khó khăn: cán bộ thiếu, cơ sở vật chất nghèo nàn do kinh tế lạc hậu ... Nhưng Đảng và nhà nước vẫn chủ trương mở các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đi từ thấp đến cao. Tháng 3- 1954 mở trường "Huấn luyện cán bộ Kinh tế - Tài chính" tháng 11- 1955 mở lại trường "Kinh tế - Tài chính trung ương", trường mới có 34 cán bộ công nhân viên. Nhiệm vụ được giao: "Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Kinh tế - Tài chính sơ cấp và trung cấp để thỏa mãn từng bước nhu cầu cán bộ trong việc khôi phục và phát triển kinh tế có kế hoạch". Chủ trương của Đảng và chính phủ là kịp thời, đúng đắn. Để củng cố tổ chức, tạo điều kiện cho trường phát triển nhanh hơn, khẳng định vị trí của trường cũng tháng 11- 1955 Trung ương Đảng có Nghị quyết số 255/NQTƯ về việc chỉ định Ban chấp hành Đảng bộ trường (lâm thời), trực thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng gồm các đồng chí:

Nguyễn Văn Tạo            Bí thư
Đoàn Trọng Tuyên         P. Bí thư
Trần Như Khương          Đảng uỷ viên
Lê Nhạc                          Đảng uỷ viên

Đồng thời bổ sung thêm một số cán bộ nòng cốt được đào tạo từ Liên Xô, Trung Quốc về một số từ các cơ quan nhà nước, các ngành chuyển đến; Mời chuyên gia Trung Quốc, Liên Xô trực tiếp bồi dưỡng các kiến thức về quản lý kinh tế, chủ nghĩa xã hội khoa học, Kinh tế chính trị triết học Mác Lênin, phương pháp xây dựng một học, phương pháp giảng dạy … Những điều kiện cần thiết để trở thành một trường Đại học chính quy, đào tạo bậc Đại học về kinh tế, mau chóng khẳng định được vị trí trong xã hội.

Ngày 25- 1- 1956 Thủ tướng chính phủ ban hành Nghị định số 678/TTg về việc đặt trường Kinh tế - Tài chính trong hệ thống các trường Đại học Việt Nam. Thủ tướng Phạm Văn Đồng là Hiệu trưởng danh dự, Ông Nguyễn Văn Tạo là Hiệu trưởng, Ông Đoàn Trọng Truyến là Phó hiệu trưởng. Từ đây trường không ngừng phát triển với các tên gọi khác nhau. Nhưng theo hướng tiến lên chính quy hiện đại.

Năm 1964 do yêu cầu mới của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, trường Đại học Kinh tế - Tài chính được đổi thành trường Đại học Kinh tế Kế hoạch.

Năm 1985 đất nước đổi mới, Trường Đại học Kinh tế - Kế hoạch được đổi thành trường Đại học Kinh tế Quốc dân.Thời kỳ đổi mới trường phát triển nhanh, năng động, đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội; không chỉ đào tạo cho cơ quan, doanh nghiệp nhà nước mà còn đào tạo cho các thành phần kinh tế khác; Kết hợp nghiên cứu khoa học phục vụ thực tế sản xuất kinh doanh, tạo nguồn thu nâng cao đời sống công chức và tăng cường cơ sở vật chất phục vụ cải cách đào tạo: mở rộng quy mô, đa dạng hóa loại hình …

Trường Kinh tế - Tài chính trung ương mở tháng 11- 1955 và đến ngày 25- 1- 1956 được đặt trong hệ thống Đại học Việt Nam, chính là tiền thân của Đại học Kinh tế Quốc dân ngày nay.
 
2. Giai đoạn 1986 - 2011

Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng ta Đại hội 6 đề ra (tháng 6- 1986), ngành giáo dục Đại học và chuyên nghiệp đã triển khai 3 chương trình hành động. Trong đó có chương trình 3 về "Đổi mới tổ chức và quản lý, xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy cán bộ quản lý giáo dục, nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng cán bộ giảng dạy, cán bộ quản lý; Thực hiện dân chủ hóa nhà trường, tìm ra động lực tiến bộ của từng người, từng trường học".

Triển khai thực hiện chương trình 3 gặp nhiều khó khăn: Hệ thống tổ chức trường đã nhiều năm vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, thiếu năng động; Đội ngũ giao viên cán bộ quản lý được đào tạo và trưởng thành trên cơ sở trang bị lý luận và thực tiễn về CNXH theo mô hình Liên Xô; Sắp xếp lại lao động, tinh giảm biên chế theo tinh thần Nghị quyết 109 và Quyết định 111 của Hội đồng bộ trưởng (1991), trong khi đời sống đang có nhiều khó khăn, do khủng hoảng kinh tế…

Mặc dù vậy, trường đã triển khai thực hiện chương trình  với nhiều biện pháp tích cực: Hoàn thiện bộ máy tổ chức đi đôi với tinh giảm biên chế; Duy trì hoạt động sản xuất và dịch vụ (tổ chức liên xưởng sản xuất Giấy in) để giải quyết việc làm cho lao động dôi dư, tăng quỹ phúc lợi của trường; Động viên tư tưởng kết hợp với giải quyết chế độ chính sách thỏa đảng cho trường đối tượng …

Bước đầu tiên là đổi mới hệ thống tổ chức quản lý nhà trường. Đây là vấn đề phức tạp, dễ đụng chạm đến con người, cho nên trường đã nêu chương châm: nơi nào, cấp nào có biểu hiện trì trệ, cản trở đổi mới thì kiên quyết sắp xếp, điều chỉnh lại cho hợp lý; vừa làm vừa rút kinh nghiệm, không gây xáo trộn lớn làm mất ổn định tình hình chung của trường.

Trên cơ sở đó tiến hành rà soát, phân tích tình hình hoạt động của các đơn vị, tổng hợp lập kế hoạch thực hiện. Đối với cấp bộ môn, tiến hành sắp xếp điều chỉnh lại cho phù hợp điều kiện mới, tăng cường năng lực quản lý chuyên môn ở cấp bộ môn. Tùy điều kiện, có thể chia tách, đổi tên bộ môn cho phù hợp (tác bộ môn Kinh tế Vật tư thành hai bộ môn: Kinh tế Thương mại và Kinh doanh Thương mại; tách bộ môn lý thuyết kế hoạch hóa thành hai bộ môn: Kinh tế phát triển và Kinh tế công cộng …). Có những bộ môn phải giải thể thành lập bộ môn mới (giải thể bộ môn Kinh tế quốc tế để thành lập bộ môn Kinh tế đối ngoại; giải thể 6 bộ môn Khoa Thống kê và Thống kê Kinh tế …)
Đồng thời, trường còn thành lập nhiều bộ môn mới như Kinh tế đầu tư, Nguyên lý Marketing, Nghiệp vụ Marketing, Kinh tế vi mô, Kinh tế vĩ mô, Kinh tế và quản lý đô thị … Các bộ môn chủ yếu thuộc khoa và đơn vị có quản lý đào tạo, giảm bộ môn trực thuộc trường.

Đối với các khoa, được tổ chức lại theo hướng mở rộng quy mô quản lý và tăng cường chức năng quản lý hành chính đào tạo. Một khoa có thể bao gồm một số chuyên ngành đào tạo, nhằm giảm biên chế và sử dụng hiệu quả hơn bộ máy quản lý cùng cơ sở vật chất hiện có. Trước hết là xem xét đổi tên một số khoa cho phù hợp yêu cầu đổi mới, sắp xếp lại một số ngành và chuyên ngành đào tạo: Khoa Ngân hàng thành khoa Ngân hàng - Tài chính; Khoa Kinh tế Công nghiệp thành Khoa Quản trị Kinh doanh Công nghiệp và Xây dựng cơ bản; Khoa Vật giá thành Khoa Du lịch - Marketing … Đồng thời cũng nghiên cứu thành lập một số khoa mới như: Khoa Kinh tế học; Khoa Ngoại ngữ Kinh tế trên cơ sở 3 bộ môn Anh - Nga - Pháp; Khoa Luật Kinh tế …

Mặt khác, trường còn thành lập các viện nghiên cứu, tư vấn phát triển Kinh tế và Kinh doanh: Viện nghiên cứu kinh tế và phát triển; Viện Dân số và các vấn đề xã hội; Viện Quản trị Kinh doanh … Thành lập các trung tâm trực thuộc trường, Khoa hoặc trực thuộc phòng (trên cơ sở bố trí, phân công lại lao động hiện có, không tăng biên chế), nhằm đáp ứng các nhu cầu thực tiễn hoặc giải quyết những vấn đề chuyên sâu có tính đặc thù mới phát sinh trong quá trình đổi mới; Trung tâm quản trị mạng thông tin; Trung tâm Đào tạo từ xa; Trung tâm Pháp chế; Trung tâm Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục; Trung tâm bồi dưỡng và tư vấn tài chính vi mô; Trung tâm đào tạo, tư vấn và dịch vụ du lịch; Trung tâm nghiên cứu tư vấn các vấn đề kinh tế xã hội trong y tế … Thành lập tạp chí Kinh tế phát triển, nhà xuất bản, nhà in … phục mọi yêu cầu phát triển sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng đội ngũ công chức của trường.
Sự thay đổi về mô hình tổ chức của trường trong thời kỳ đổi mới đã thể hiện tính đa dạng linh hoạt thích ứng với cơ chế mới, cơ chế kinh tế thị trường đầy năng động. Tuy vậy, hệ thống tổ chức trường vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, nhất là các đơn vị quản lý đào tạo ngành, nhóm ngành và chuyên ngành. Việc xác định giữa ngành, nhóm ngành, chuyên ngành chưa hợp lý, chưa khoa học … Do đó bộ máy quản lý còn cồng kềnh, nhiều khoa, nhiều bộ làm phân tán lực lượng lao động, hiệu quả công tác không cao.

Song song với đổi mới bộ máy tổ  chức quản lý, trường luôn luôn chăm lo xây dựng và phát triển đội ngũ cả về số lượng và chất lượng. Những năm đầu thời kỳ đổi mới, trường thực hiện sắp xếp, bố trí lại lao động theo yêu cầu tinh giản biên chế. Nhưng cố gắng không giảm đội ngũ giáo viên mà phải tìm mọi biện pháp tăng số lượng và nâng cao chất lượng của đội ngũ này. Giáo viên là lực lượng quyết định sự nghiệp đổi mới của trường, nhưng họ đang trong tình trạng quá tải giảng, không có thời gian nghiên cứu khoa học và bồi dưỡng nâng cao trình độ.

Quán triệt tư tưởng đổi mới và xuất phát từ điều kiện cụ thể của trường về nguồn nhân lực, những giải pháp tích cực đã được triển khai. Trước hết, rà soát lại toàn bộ đội ngũ cán bộ giáo viên, công nhân viên; xác định đơn vị nào thừa, thiếu, theo những chức danh nào, độ tuổi, khả năng chuyên môn của từng đối tượng … Trên cơ sở đó điều chỉnh, bố trí lại cho phù hợp, còn trẻ thì cử tri bồi dưỡng, lớn tuổi thì giải quyết chính sách nếu người lao động đồng ý. Thứ hai, trường chủ động tuyển chọn những sinh viên khá, giỏi, có phẩm chất đạo đức tốt giữ lại làm giáo viên và cán bộ quản lý theo chế độ hợp đồng, dùng quỹ tự có trả lương. Họ cũng được bồi dưỡng nâng cao trình độ theo hướng chuẩn hóa lâu dài. Đây là hướng đi đúng, chủ động xây dựng, phát triển nguồn nhân lực của trường. Thay thế cơ chế "xét tuyển" bằng cơ chế "thi tuyển" có nhiều ưu điểm, công khác, dân chủ, tuyển được người theo đúng những tiêu chuẩn chặt chẽ, khoa học. Thứ ba, trường mời những cán bộ khoa học, quản lý ở các cơ quan, viện nghiên cứu, các công ty … kiêm giảng, hoặc làm cộng tác viện nghiên cứu khoa học, tư vấn, quản lý từng lĩnh vực chuyên môn của khoa, phòng ban và của trường. Giải pháp này đã giúp trường khắc phục được tình trạng quá tải ở một số đơn vị. Nhưng điều quan trọng hơn là mở rộng quan hệ hợp tác giữa trường với các tổ chức nghiên cứu, các ngành, các công ty sản xuất kinh doanh … Gắn đội ngũ công chức của trường, gắn nhà trường với thực tiễn xã hội trong đào tạo và nghiên cứu khoa học.

Về chất lượng đội ngũ, trường triển khai các biện pháp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ phù hợp với từng đối tượng công chức, viên chức, phù hợp với độ tuổi và năng lực chuyên môn của họ.
Đối với giáo viên và cán bộ quản lý trẻ được bồi dưỡng toàn diện, cả lý luận chính trị, đường lối chính sách của Đảng, chuyên môn nghiệp vụ, quản lý hành chính, phương pháp sư phạm, ngoại ngữ … có thể là các lớp chính quy dài hạn, tập trung lấy bằng Thạc sỹ, Tiến sỹ Khoa học Kinh tế; Hoặc là các lớp bồi dưỡng ngắn hạn, hội thảo khoa học, báo cáo chuyên đề ở trong và ngoài nước. Đội ngũ công chức trẻ đã tìm thấy động lực để phấn đấu vươn lên đạt trình độ cao hơn, không phải "xếp hàng" chờ đợi như trước đây. Có nhiều người đã có bằng trên đại học khi đang còn hợp đồng tập sự.

Đối với độ ngũ lớn tuổi, đang là lực lượng chủ chốt ở các khoa, các bộ môn, phòng ban mà trước đây được đào tạo từ các nước xã hội chủ nghĩa, hoặc tại trường thì chủ yếu bồi dưỡng bổ sung thêm kiến thức mới về kinh tế thị trường, quan điểm của Đảng về đổi mới kinh tế. Họ được theo các lớp bồi dưỡng do các quỹ của các nước, hoặc các tổ chức quốc tế tài trợ (quỹ Ford của Mỹ, tổ chức SIDA của Thụy Điển, tổ chức UNDP …). Nhờ đó đội ngũ chủ chốt vẫn giữ được vai trò quan trọng trong đổi mới đào tạo, mà trước hết là biên soạn lại hệ thống chương trình, giáo trình, xây dựng các mô học mới, áp dụng các phương pháp đào tạo mới, tiên tiến, khoa học … Một loạt các môn học mới được xây dựng: Kinh tế vi mô, Kinh tế vĩ mô, Kiểm toán, Marketing, Kinh tế đầu tư, Kinh tế bảo hiểm, Kinh doanh khách sạn, Thương mại quốc tế… Trong đó có nhiều giáo trình được chọn để giảng dạy chung cho các trường Đại học và Cao đẳng trong cả nước: Kinh tế vi mô, Kinh tế vĩ mô, Dân số học, Lịch sử các học thuyết kinh tế, …

Đề nghị với học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh mở các lớp chính trị, quản lý hành chính cao cấp, bồi dưỡng về chính trị, năng lực quản lý cho đội ngũ công chức nhà trường. Mở các lớp bồi dưỡng ngoại ngữ tại chức để cán bộ, giáo viên đạt trình độ đại học, vừa giúp họ có thể tiếp cận nhanh với nền khoa học tiên tiến của thế giới, vừa tạo điều kiện để họ đạt chuẩn thi nâng ngạch công chức.

Kết hợp với trường văn thư lưu trữ trng ương mở nhiều lớp bồi dưỡng kiến thức cho các nhân viên hành chính của trường.

Tóm lại, sau 25 năm đổi mới trường đã xây được bộ máy quản lý và đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên ngày càng vững mạnh, ổn định nhưng năng động thích ứng với những yêu cầu mới của một trường Đại học Kinh tế trọng điểm quốc gia, đa ngành, đa lĩnh vực, đào tạo cán bộ phục vụ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

 
Hiệu trưởng trường giai đoạn 1986- 2011
1. Ông Nguyễn Pháp (Q. HT rồi HT) 1985- 1987
2. Ông Vũ Đình Bác 1987 - 1994
3. Ông Lương Xuân Quỳ 1994 - 1999
4. Ông Nguyễn Đình Hương 1999 - 2002
5. Ông Lê Du Phong (Q Hiệu trưởng) 2002 6/ 2003
6. Ông Nguyễn Văn Thường 2003 - 2008
7. Ông Nguyễn Văn Nam 2008 - 2013